
Lễ tế dâng hương tại đền thờ Nguyễn Trãi trong khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc do các cụ cao niên ở phường Trần Hưng Đạo thực hiện.
Lễ hội mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc không chỉ là sự kiện văn hóa lớn của thành phố mà còn là dịp để tri ân tiền nhân, tìm về cội nguồn dân tộc. Trong dòng chảy ấy, hệ thống nghi lễ truyền thống giữ vai trò trụ cột, làm nên “phần hồn” của di sản.
Bảo tồn "tính thiêng"
Mỗi độ Xuân về, giữa không gian linh thiêng của núi rừng Côn Sơn và vùng đất Kiếp Bạc anh hùng, tiếng chuông chùa ngân vang hòa cùng khói hương trầm mặc, mở ra mùa lễ hội giàu bản sắc văn hóa. Các nghi lễ truyền thống được tổ chức trang trọng, bài bản, gắn với chiều sâu lịch sử và Phật giáo Trúc Lâm. Từ lễ dâng hương khai hội, lễ khai Xuân, lễ rước nước cho đến lễ tưởng niệm… mỗi nghi thức đều chứa đựng tầng ý nghĩa văn hóa tâm linh đặc biệt.
Lễ rước nước tại chùa Côn Sơn với đoàn rước trong trang phục truyền thống, cờ hội rợp sắc, chiêng trống nhịp nhàng, không chỉ tái hiện tập tục cổ truyền mà còn gửi gắm khát vọng về sự thanh khiết, no đủ, an lành. Nghi lễ dâng hương tưởng niệm Huyền Quang nhắc nhớ về bậc cao tăng tiêu biểu của Thiền phái Trúc Lâm, biểu tượng của trí tuệ và tinh thần nhập thế, gắn đạo với đời.
Lễ tế trời đất trên núi Ngũ Nhạc là nghi lễ đặc trưng của Lễ hội truyền thống mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc. Lễ hội nhằm cầu trời đất, thần linh, tiên thánh phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Đoàn tế xuất phát từ chân núi Ngũ Nhạc, lần lượt dâng hương tại 5 miếu: Bắc Nhạc Miếu, Trung Nhạc Miếu, Tây Nhạc Miếu, Đông Nhạc Miếu và Nam Nhạc Miếu. Tại Trung Nhạc Miếu, trung tâm của Ngũ Nhạc Linh Từ, Ban Tổ chức tiến hành nghi lễ tế trời đất.
Theo Tiến sĩ Lê Duy Mạnh, Phó Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, những năm gần đây, công tác bảo tồn nghi lễ được chú trọng theo hướng vừa kế thừa nguyên gốc, vừa có sự nghiên cứu, đối chiếu tư liệu lịch sử. “Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với các nhà nghiên cứu, với Giáo hội Phật giáo để bảo đảm nghi lễ diễn ra đúng truyền thống. Mỗi chi tiết, từ thứ tự đoàn rước, trang phục, lễ phẩm đến kịch bản hành lễ đều được rà soát kỹ lưỡng,” ông Mạnh cho biết.
Điều đáng quý là cộng đồng địa phương luôn là chủ thể thực hành nghi lễ. Người dân phường Trần Hưng Đạo và các khu dân cư lân cận tham gia chuẩn bị lễ vật, tập luyện đội nghi thức, giữ gìn không gian lễ hội. Cụ Trần Thị Lộc, 78 tuổi, người nhiều năm tham gia đoàn rước nước, xúc động nói: “Chúng tôi coi đây là trách nhiệm và niềm tự hào. Giữ được nghi lễ là giữ được gốc rễ của truyền thống văn hóa quê hương”. Chính sự gắn bó bền chặt ấy đã làm nên sức sống cho nghi lễ Côn Sơn - Kiếp Bạc. Không phải là những nghi thức “đóng khung” trong bảo tàng, mà là di sản sống, được cộng đồng thực hành và truyền trao qua các thế hệ.
Để truyền thống trường tồn

Cùng các nghi lễ, phần hội cũng được ban tổ chức phục dựng các hội thi mang đậm truyền thống. Ảnh THÀNH CHUNG
Trong bối cảnh lễ hội ngày càng thu hút đông đảo người dân và du khách, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức nghi lễ một cách khoa học, chuyên nghiệp nhưng không làm phai nhạt bản sắc. Lễ hội mùa Xuân năm nay được xây dựng kịch bản chi tiết cho từng hoạt động, phân công rõ trách nhiệm giữa các sở, ngành, địa phương và Ban Tổ chức. “Chuẩn hóa không có nghĩa là hành chính hóa nghi lễ. Chúng tôi hướng tới việc bảo đảm tính trang nghiêm, an toàn, đồng thời ngăn chặn những biểu hiện mê tín, thương mại hóa. Từng nghi lễ đều có kịch bản cụ thể, lực lượng phục vụ, phương án bảo đảm an ninh, phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường”, ông Lê Duy Mạnh cho biết thêm.
Bảo tồn nghi lễ trong xã hội hiện đại phải theo hướng “bảo tồn động”. Tức là giữ cốt lõi giá trị, nhưng chấp nhận những điều chỉnh cần thiết về tổ chức để phù hợp điều kiện mới. Điều quan trọng nhất là cộng đồng vẫn nhận diện được ý nghĩa thiêng liêng của nghi lễ. Một điểm đáng ghi nhận là sự tham gia tích cực của thế hệ trẻ. Nhiều đoàn viên, thanh niên địa phương tình nguyện hỗ trợ lễ hội, hướng dẫn du khách, tham gia đội hình nghi lễ. Em Nguyễn Văn Dũng ở tổ dân phố Cầu Dòng chia sẻ: “Khi trực tiếp tham gia hỗ trợ lễ hội, em hiểu rõ hơn về giá trị di sản. Điều đó khiến chúng em tự hào và có trách nhiệm giữ gìn truyền thống”. Cùng với đó, công tác quản lý được thực hiện đồng bộ: từ phân luồng giao thông, bố trí bãi đỗ xe, kiểm soát hàng quán, đến bảo đảm vệ sinh môi trường. Những biện pháp này không chỉ phục vụ lễ hội trước mắt mà còn góp phần xây dựng hình ảnh điểm đến văn minh, thân thiện.
Rõ ràng, chuẩn hóa tổ chức chính là điều kiện để nghi lễ truyền thống tiếp tục tồn tại và phát huy giá trị trong đời sống đương đại. Nếu chỉ giữ nguyên hình thức mà thiếu quản lý khoa học, lễ hội dễ rơi vào tình trạng lộn xộn, làm giảm sút tính thiêng. Ngược lại, nếu áp đặt máy móc, làm mất đi sự tham gia chủ động của cộng đồng, nghi lễ sẽ trở nên khô cứng, xa rời đời sống.
Nguồn: Báo Hải Phòng